Sốc - Độc - Lạ

Nhạc sĩ Ngọc Đại: “Tôi điên… có bản sắc”


Thời gian gần đây, thiên hạ không thường xuyên nhìn thấy và nghe thấy Ngọc Đại, cho dù là trên sân khấu, hay đâu đó ồn ào cùng giới truyền thông. Anh vừa trở về sau những cơn đau dữ dội do chứng rối loạn tiền đình, khiến anh phải nhập viện.
 
Nhiều bạn bè, đồng nghiệp đã thảng thốt, giật mình khi hay tin. Họ quan tâm đến Ngọc Đại, vì anh để lại trong họ nhiều ấn tượng về một nhạc sĩ “cực đoan” từng tuyên bố cách tân nhạc Việt, và hơn 20 năm qua anh đã dốc sức cho việc cách tân đó. Dẫu sự khen chê rất khác nhau, có khi đối lập, nhưng không ai phủ nhận tính cách tân trong âm nhạc của Đại.

Nụ cười trễ nải, hiền lành, dáng đi lầm lũi, lủi thủi đầy vẻ suy tư, có lẽ Ngọc Đại chỉ “động” khi chỉ đạo công việc. Dù thế nào thì người nhạc sĩ ấy cũng đã để lại phía sau lưng ánh hào quang của thời vàng son “Nhật thực”. Anh lặng lẽ sống, lặng lẽ làm việc, lặng lẽ khép mình để theo đuổi dòng nhạc mà anh đã lập trình từ trước dù nó không có nhiều lối thoát, không có nhiều sự đồng cảm, sẻ chia từ bạn bè, khán giả. Thế nhưng, anh cũng chẳng mấy quan tâm vì anh có “men” say dấn thân đến tận cùng của một cá tính nghệ thuật, không bao giờ muốn đi mãi trên một con đường, mà luôn cuốn mình vào ma trận khác của ngôn ngữ, hình thể, âm thanh, thậm chí đôi khi bất lực trước sự phá phách của chính mình… Mê mải đi tìm cái mới nên đôi lúc, anh phải trả giá đắt bằng chính cuộc sống thật của mình, bằng sự cô độc, chứ không phải bằng sự ảo tưởng du dương của những nốt nhạc phiêu linh trên sân khấu.

Chưa vượt qua “cái bóng” của chính mình

Nhạc sĩ Ngọc Đại. Ảnh internet

Tôi tìm đến nhà Ngọc Đại trong một buổi chiều mưa. Căn nhà tĩnh lặng trong tiếng mưa lắc thắc rơi trên mái hiên. Ngọc Đại ngồi nhâm nhi ly cà phê đen, đôi mắt thâm sâu sau cặp kính đang trải lòng mình theo tiếng nhạc, tiếng nhạc đầy mê hoặc, đôi khi là tiếng leng keng của những âm vang làng quê, là tiếng kẻng đổ rác tan tầm, là tiếng mõ lóc cóc của một ngôi chùa đâu đó ở thị thành…

Anh mở đầu câu chuyện:”Thuở nhỏ, tôi theo cha qua các chiếu chèo vùng Hà Nam, nhuộm vào tận máu linh hồn dân ca đồng bằng Bắc Bộ. Bố tôi mê âm nhạc truyền thống đến mức bán cả bò đi để tụ tập những người hát hay trong các huyện, các tỉnh về sân nhà mình biểu diễn. Bố tôi cũng là một người hy sinh cho âm nhạc khủng khiếp. Sự bất thường biến báo, uyển chuyển giai điệu trong bài hát của tôi cũng chính từ nhịp trống, nhịp phách mà ra cả”. Niềm đam mê âm nhạc đã thúc đẩy anh thi vào Nhạc Viện Hà Nội. Tốt nghiệp loại ưu bằng giao hưởng số 1 và lọt vào mắt xanh của một đạo diễn người Pháp, Ngọc Đại được mời về làm việc tại Nhà Hát Tuổi Trẻ. Nhưng rồi với bản tính ưa tự do, anh từ bỏ biên chế, sáng tác những tác phẩm theo ý thích riêng mình và tự trở thành một ông bầu ca nhạc để kiếm sống.

Sự ra đi của anh hồi ấy khiến nhiều người trố mắt kinh ngạc, nhưng Ngọc Đại vẫn bình thản mỉm cười. “Khi ấy, tôi đã nhìn ra xung quanh và ngắm lại mình, tôi tự nhủ mình đừng cũ mãi thế, phải đi làm những điều mới mẻ hơn, chứ lặp lại họ thì chả khác nào vả vào mặt nhau. Những lúc “lên đồng” tôi có thể viết cả chục bài hát một ngày. Tác phẩm  của tôi thường gây tranh cãi, thậm chí bị chối bỏ. Nhóm mấy người bạn, trong đó có Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Cường… biết thế, quay ra can ngăn. Ngăn chẳng được thì tụi nó bảo tôi là điên…”, Ngọc Đại nhớ lại.

Trong những ngày tháng bươn chải đó, Ngọc Đại đã viết một loạt ca khúc mà anh gọi là “Rock biển”, “Rock gốm”, “Rock đồng dao”…, rồi cùng Phó Đức Phương làm nên chương trình “Phù Vân – Lưu lạc” tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Những “cơn Rock Ngọc Đại” như đánh đố công luận, khen ít chê nhiều, khiến anh hết sức dè dặt. Mãi đến đầu năm 1999, khi anh bắt gặp thơ Vi Thùy Linh, và thế là cảm hứng sáng tạo bùng phát, anh đã xoay vần con chữ với những giai âm diệu kỳ để rồi “Nhật thực” ra đời, trở thành một hiện tượng hi hữu trong đời sống âm nhạc Việt Nam lúc đó(2001).

“Nhật thực” không phải là chương trình dễ xem, rất nhiều những bước nhảy âm nhạc táo bạo và mới mẻ, nhưng người xem dù chưa sành âm nhạc lắm cũng có thể rung động được với những cảm xúc mãnh liệt, chói gắt của một tình yêu vừa trần thế, vừa siêu thoát. Có thể nói, thành công của “Nhật thực” nằm ở sự phối hợp khá hài hòa giữa khát vọng tình yêu có màu nhục thể trong ca từ của Vi Thùy Linh với cảm hứng Phật giáo siêu thoát trong âm nhạc của Ngọc Đại. Hai cảm hứng có vẻ đối lập nhưng lại giằng kéo nhau, nương tựa vào nhau. Cùng với ánh sáng, vũ điệu, hình chiếu và phối khí, cái mới trong âm nhạc của Ngọc Đại đã chinh phục được  khán giả.

“Tôi nhớ “Nhật thực”, nhớ những khoảnh khắc đẹp ấy mỗi ngày. Hồi đó, chúng tôi từng dốc hết tận cùng sức lực, tiền của để làm chương trình, đưa nó vượt qua những khó khăn nhất để đến với công chúng. Khi làm album, một đĩa in ra hết năm mươi nghìn nhưng tôi chỉ bán với giá năm nghìn. Tôi hướng đến sinh viên vì chính họ là đối tượng khán giả chúng tôi kỳ vọng. “Nhật thực” đã đến với công chúng như một món ăn lạ biết mang tới đúng lúc. Nhưng đừng ai chờ đợi sự trở lại của nó. Rất khó để làm điều đó trong hoàn cảnh hiện nay”. Ngọc Đại nói vậy. Trong tiếng giọng của anh có chút gì ngậm ngùi, nuối tiếc.

Vẫn mải miết thể nghiệm

 
Đến “Đại Lâm Linh” (2009) thì cảm hứng của Ngọc Đại đã không còn là cảm hứng âm nhạc mang tinh thần Phật giáo nữa, mà chuyển sang hướng mới mang âm hưởng của tuồng. Vẫn dựa trên thơ Vi Thùy Linh, những bài “Dệt tầm gai”, “Cây nữ tu” đã được phổ vào một tinh thần âm nhạc mới mang không khí sân khấu tuồng truyền thống. Cái dữ dội của tình yêu trong ca từ kết hợp với cái dữ dội cách điệu của tuồng làm các bài hát trong chương trình “Đại Lâm Linh” khá nặng nề và khó nghe hơn “Nhật thực”. Nó càng trở nên khó cảm hơn khi hai tiếng hét của thơ và tuồng lại được vang lên trong không gian trình diễn thời thượng kiểu phương Tây. Âm hưởng tuồng truyền thống không tìm thấy một “thân xác” tương ứng, nên nó trở nên một thực thể ma quái và mộng mị. Với “Đại Lâm linh”, dường như ngọc Đại đã đẩy công chúng ra xa hơn bởi một thứ âm nhạc quá lạ, quá khó, mà như anh nói thì nghe xong khiến người ta phải “Sợ, Sởn, Sướng”, Ngọc Đại giải thích: “Nhật thực” chỉ là khởi đầu của nhạc ballad, còn ở “Đại Lâm Linh” tôi muốn thừa kế cái đẹp trong âm nhạc dân gian là tính kịch. Bạn thấy khi người ta diễn tuồng, người ta không chỉ có nhạc, có hát, mà người diễn viên còn phải hét, phải thét, phải quát mắng, biểu lộ tâm trạng bằng cả nét mặt. Điều đó rất tuyệt vời và tôi muốn học hỏi”.
 
Tính Ngọc  Đại là thế, luôn cứng đầu cứng cổ và  có những ý nghĩ táo bạo trong âm nhạc mà  anh gọi là thể nghiệm”. Đương nhiên thể  nghiệm là phải làm những cái mà người khác chưa làm, phá vỡ những thói quen thẩm mỹ cũ, thậm chí nhận những phản ứng dữ dội từ công chúng bởi những ý tưởng bị cho là điên rồ, Nhưng anh cũng chẳng ngại mà lại còn vui thích với nghệ danh “Đại điên”. “Ừ thì tôi điên, nhưng điên… có bản sắc”, nhạc sĩ hỉ hả. Có lẽ, cũng nên có lời khích lệ cho những người tiên phong như Ngọc Đại, bởi lẽ không có người phá đường thì sao mà thành đường.

Ngọc Đại kể, anh rất tâm đắc với sự thử nghiệm cấu trúc tiếng động của âm thanh, nhạc cụ, giọng người. Kỹ thuật hát ép giọng như tiếng cọ xát của tre nứa, tiếng khóc, tiếng nấc, tiếng rên tạo thành những phần hòa sắc, hòa âm. Các nhạc cụ chơi ngẫu hứng, độc lập với phần hát, không đơn thuần là phần đệm và cũng không ngẫu hứng theo phong cách Jazz – Pop, khai thác triệt để âm sắc, không thuần túy dùng giọng hát trình bày câu thơ hay mà trình bày con người cụ thể, hữu hạn. Ở đó, nhạc và hát không còn giới hạn,. Nhiều người bảo, sao điên thế, đi quá cả giới hạn của hát. Nhưng Ngọc Đại thì vẫn kiên định bảo vệ:”Tôi không quan tâm hay dở mà muốn tạo ra năng lượng cho khán giả. Lỗ tai phải rất tuyệt vời mới nghe được vì nó chuyển động rất nhanh”.

Nghe nhạc của Ngọc Đại và cả tiếp xúc với anh, lỗ tai đều rất cần “tuyệt vời” bởi Đại có thể gây sốc với người đối diện khi phỏng vẫn những điều anh làm. Ngang tàng trong cá tính như thế, nhưng những việc Ngọc Đại làm thì đều có mục đích rất trong sáng: thu hút công chúng đến với âm nhạc thử nghiệm và mong muốn dòng nhạc hát đương đại Việt Nam đủ sức giao lưu với nước bạn.

Cho đến nay, Ngọc Đại vẫn ôm mộng về một ngày, anh có thể tìm được ngôn ngữ phương Đông đương đại, tụ hợp những tài năng của mảnh đất châu Á giàu truyền thống, sử dụng công nghệ của phương Tây để làm nên những bản nhạc mang đầy sắc thái huyền bí, phá tan mọi rào cản tôn giáo, ngôn ngữ để mở rộng ra thế giới. Nhạc sĩ đã sống trong cái ảo mộng đó quá lâu, đến độ anh không thể dứt ra được. Anh bảo không thể giác ngộ được đồng nghiệp, nhưng với số đông, có thể suy nghĩ của anh là phi thực tế. Vì thế mà anh vẫn cứ lao như con thiêu thân vào những dự án của đời mình, đổ tiền vào làm chương trình. Thậm chí anh một mực tin rằng, nếu mình không hoàn thành tâm nguyện thì cậu con trai sau này sẽ thay anh hoàn thành sứ mênh âm nhạc.

“Tôi đang ấp ủ những show diễn “đã đời” cho nhạc của mình. Âm nhạc đối với tôi là từng ngày sống, tôi không ngừng suy nghĩ về nó, cố gắng thay đổi và phát triển. Mọi người đừng bảo nhạc của tôi gào, rú, thét, hét,… Đó là những âm thanh thật của cuộc sống. Tôi muốn dùng chính những âm thanh ấy để diễn tả trạng thái cảm xúc của con người, chứ cứ nói “ôi tôi đau quá”, “ôi tôi buồn quá”… thì rất chán. Thực chất, nó cũng chỉ là những câu chuyện giản dị về một người mẹ nghèo, một anh chàng nhà quê ở phố nhớ cố hương, một người quét rác đêm tất tưởi, một cô gái dệt tầm gai cho tình yêu thương say đắm… nhưng được biểu hiện bằng một thứ âm thanh đầy ma mị, đầy man dại, có khi lại lạc lõng, u mê đầy dụ dỗ. Khi đã có cùng “tông” thì người nghe sẽ không thể “thoát” được sự mê hoặc của âm nhạc Ngọc Đại. Bởi vì nó đầy nhân bản. Bảo tôi giữ cái nhị để kéo cho cả thế giới này nghe thì tôi có làm được không? Dĩ nhiên là có, nhưng tôi phải phiên dịch, tôi đưa nó ra bằng cả tâm hồn. Còn bảo tôi cứ làm như người này người kia đi: Cũ rồi, tôi không làm!”, Ngọc Đại dốc lòng.

Tận cùng nỗi cô đơn
 
 
Tách mình ra khỏi dòng chảy chung, lại thêm bản tính “khác thường” nên Ngọc Đại không nhiều bạn. Đặc biệt là hậu “Đại Lâm Linh”, nhiều mối quan hệ của anh bị rạn vỡ. Ở cái chỗ tận cùng cô độc, Ngọc Đại vẫn đầy tự tại, làm việc và thỉnh thoảng mở miệng chửi những kẻ vô tâm, những cách làm cũ kĩ, những “thằng bội bạc”… Đôi khi “gã đầu trọc” nói những câu… tục không thể chịu được nhưng bên trong đó con người nghe vẫn cảm nhận được cái “chất Ngọc Đại” rất cô đơn.

3 người vợ lần lượt rời xa người nhạc sĩ ấy. 4 người con, đứa thì sống ở nước ngoài, đứa làm ăn xa. Lâu nay, anh đã quen lủi thủi một mình trong căn nhà nhỏ có phần tuềnh toàng trên phố Đào Tấn, một góc phố đông đúc, ồn ã xe cộ và lấp lánh ánh đèn xanh đỏ của những quán cà phê sang trọng. Để ngăn cái lạnh tê tái của mùa đông, anh che những tấm  nhựa trong suốt bao quanh căn phòng. Căn phòng anh chẳng có gì ngoài vài cái loa thùng to vật vã, một cây đàn piano, một bộ ghế sopha dùng để ngồi vừa để ngủ. Bên cạnh phòng khách là một cái bếp lạnh lẽo với vài đôi đũa, vài cái bát và đôi chiếc nồi bám bụi. Vì quá ít đỏ lửa, nên nhện cũng chăng đầy trên các góc tường ở bếp nhà anh. “Giờ tôi chỉ có mấy con nhện làm bạn thôi. Tơ nhện cũng là một tác phẩm nghệ thuật tạo hình có giá trị đấy”, Ngọc Đại nói.

Đến bữa, anh ra ngoài ăn cơm bụi, theo đúng kiểu của một gã độc thân: “Gì chứ ăn thì dễ, cứ 20 nghìn là người ta bưng ra tận nơi cho mình”. Những lúc hết tiền, Ngọc Đại phải nhịn ăn sáng suốt cả tuần liền, bữa trưa, bữa tối chỉ có cơm lạc rang và xì dầu cho qua quýt. Đại kể, đã từng có thời kỳ, anh không có một xu dính túi, không có tiền ăn dù chỉ là gói cơm hộp 15 nghìn đồng, đói quá anh đi ra công viên gần nhà hái lá bạch đàn, vò cho hết nước chát, rửa sạch rồi luộc lên chấm nước mắm ăn ngon lành. Nhiều đêm, anh lang thang uống rượu vỉa hè cùng người bạn thân, rượu không đủ nặng nhưng bao suy nghĩ bộn bề trước đời sống, trước những điều đã qua làm anh mềm lòng.

Dường như Ngọc Đại luôn “quay quắt” với những giai nhân và thổn thức với những kỉ niệm xa xôi nào đó trong qúa khứ. Khi chàng kiến trúc sư Nguyễn Đình Thanh Tâm hát lại “Giọng mưa đàn bà” của Ngọc Đại trên sân khấu “Sao mai điểm hẹn” vừa qua, nhiều người đâm ra tò mò không biết người đàn bà ấy của Đại thế nào mà khiến anh viết lên những lời đau đớn, diết da, quay quắt: “Mưa rơi những giọng đàn bà/ Như thể các nàng đã chết ngay cả trong kỉ niệm cũng mưa rơi/ Chính những kỉ niệm diệu kì đời ta ơi, giọt giọt nhỏ nhoi/ Các mây kia lồng lên, cất lên tiếng hú/ Cả một vũ trụ các đô thành thính cảm/ Nghe như có tiếng mưa tiếng nhớ/ Khinh khí khóc một điêu nhạc xưa…”. Ngọc Đại viết “Giọng mưa đàn bà” đã rất lâu, từ những năm 70 của thế kỉ trước. Nỗi nhớ về người đàn bà đó dường như đã trở thành một phần da thịt, hơi thở, âm điệu của con người anh.

Ngọc Đại ưu tư châm thuốc, nhưng anh chỉ hit một hơi rồi tắt đi. Có lẽ, là vì người đối diện trước mặt anh là phụ nữ. “Người đàn bà đẹp nhất Việt Nam chỉ có thể là Trà Giang – hiện thân của vẻ đẹp thuần Việt, nhân hậu, thủy chung, trong sáng và thánh thiện. Hồi còn trẻ, tôi hay chơi với chồng của cô ấy. Còn nhớ, rất nhiều lần đi quay phim về, Trà Giang thường qua Nhạc Viện thăm anh em chúng tôi. Mỗi lần qua, cô ấy đều khiến cánh thanh niên mê mẩn. Cũng đúng thôi, làm sao mà không thầm yêu trộm nhớ một người con gái như thế được?”, “kỳ nhân” trong làng nhạc không ngần ngại chia sẻ.

Hỏi vui Ngọc Đại: “Ở tuổi ngoài 60, anh vẫn còn yêu chứ?”, nhạc sĩ nheo mắt u uẩn: “Tình yêu thì bao giờ cũng cần và bao giờ cũng thiếu. Nhưng phụ nữ yêu tôi không hề dễ. Không phải vì tôi kiêu căng mà vì cá tính của tôi quá mạnh. Họ phải khác người, phải hiểu và thông cảm cho tôi thì mới chấp nhận được. Tôi có nhiều người đàn bà trong đời, nhưng số phụ tôi tôi cũng không phải ít. Hiện tại, tôi đang là một kẻ “vô sản” và đương nhiên là chẳng có người đàn bà nào dám đến với một gã tay trắng như tôi bây giờ”.

Thu mình cô độc trong căn nhà vắng tiếng người, chỉ có âm nhạc làm tri kỷ, cuộc sống không lấy gì làm dư giả, nhưng Ngọc Đại vẫn một mực “đố ai thuê được tôi viết nhạc”. Điều này gần như là nguyên tắc sống của anh. Nó mang lại cho Ngọc Đại bản lĩnh, cá tính, sự khác người độc đáo nhưng cực đoan như anh từng thừa nhận. Anh nói: “Tôi đã từng đá chiếc bát đi thì không bao giờ dùng lại nó. Cho dù sau đó mình có thèm đến mấy”.

Tôi tạm biệt Ngọc Đại ra về khi phố đã lên đèn và mưa rơi nặng hạt thành dòng trên con ngõ nhỏ lối vào nhà anh. Lẫn trong tiếng mưa, là tiếng của âm thanh mộng mị từ bài hát không rõ lời mà anh vừa viết… 
 
Theo Câu Chuyện Pháp Luật
» Cho thuê lớp học tại Hà Nội