Sốc - Độc - Lạ

Nghi án xung quanh “Lê Ngọa Triều”, ông vua có tiếng tàn bạo, dâm dục nhất Việt Nam (II)


Cứ theo nhận định của các sử thần thì Lê Long Đĩnh với biệt danh là “Lê Ngọa Triều “dâm đãng, tàn bạo chỉ có thể sánh với các vua Kiệt - Trụ, những “hôn quân” bên Trung Hoa. Song, bất ngờ thay chính những sử liệu trong các bộ cổ sử lại như không ủng hội những nhận định ấy.

Bài 2: Có thật là Lê Long Đĩnh bạo ngược như Kiệt - Trụ bên Trung Hoa?

Các bộ cổ sử chép gì?

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” dành cả trang chép về sự ác độc, tàn bạo của Lê Long Đĩnh: “Vua tích thích giết người, phàm người bị hành hình, hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào người mà đốt để cho lửa cháy gần chết; hoặc sai người kép hát người nước Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn dao cùn xẻo từng mảng, để cho không được chết chóng, người ấy đau đớn kêu gào thì Thủ Tâm nói đùa rằng: Nó không quen chịu chết. Vua cả cười. Đi đánh dẹp bắt được thù thì giải đến bờ sông, khi nước triều rút, sai người làm lao dưới nước, dồn cả vào trong ấy, đến khi nước triều lên ngọn cây cao, rồi chặt gốc cây đổ, người rơi suống chết. Vua thân đến xem lấy làm thích lắm. Từng đi đến sông Ninh, sông ấy nhiều rắn, vua sai trói người vào mạn thuyền, đi lại giữa dòng muốn cho rắn cắn chết. Phàm bò lợn muốn làm thịt thì tự tay vua làm tiết trước, rồi mới đưa vào nhà bếp sau. Từng róc mía trên đầu nhà sư Quách Ngang, giả vờ lỡ tay lưỡi dao trượt xuống đầu nhà sư cho chảy máu, rồi cả cười. Hoặc nhân yến tiệc giết mèo cho các vương ăn, ăn song lấy đầu mèo dâng lên cho xem, các vương đều sợ, vua lấy làm thích. Mỗi khi ra chầu tất sai bọn tấu hài hầu hai bên, vua có nói câu gì người nọ người kia thi nhau pha trò để cười, để cho loạn lời tâu việc của quan chấp chính.Lại lấy con sạch thùng làm gỏi, bắt bọn khôi hài tranh nhau ăn”.

Sách “Đại Việt sử lược” cũng chép tỷ mỉ không kém những nội dung tương tự và còn ghi: “... Vua đi đánh hai châu Đô Long và Vị Lương bắt được dân Man và ngựa đến vài trăm con. Vua sai người dùng ngựa đánh số người dân Man bị bắt ấy. Nhân bị đánh quá đau, họ kêu la ầm lên lỡ phạm đến tên húy của vua Đại Hành. Vua lại cười rộ lên, sai người đánh nữa và sai người đánh mãi. Nhiều lần bị đánh và nhiều lần người Man xúc phạm đến tên húy của vua Đại Hành mà nhà vua lại rất vui. Lại khi đi đánh Ái Châu (Thanh Hóa) bắt được người châu ấy, vua cho làm cái vựa rồi nhốt họ vào trong mà cười”.


“Khâm định Việt sử  thông Giám cương mụ” cũng chép tương tự, tuy có ngắn hơn.

Ngô sĩ Liên trong “Đại Việt sử ký toàn thư” chẳng những ví sự độc ác, tàn bạo của Long Đĩnh với các vua Kiệt, Trụ bên Trung Hoa mà còn cho rằng “Ngọa Triều không những chỉ thích giết người, lại còn oán vua cha không lập mình làm thái tử, đánh nhau người Man để họ kêu khóc mà còn phạm đến tên húy của cha mà lấy làm thích, như thế còn tệ hơn nữa”.

Học giả Trần Trọng Kim trong “Việt Nam sử lược” cũng viết rằng “Long Đĩnh là người bạo - ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa”.

Những sử liệu ‘’bác” lại

Có thể nói, những hành vi của vua như sử chép chỉ có thể là những kẻ tâm thần, đã mất hết tính người, nếu ở vào thời nay thì phải cho đi “Trâu Quỳ” (nơi có bệnh viện tâm thần Hà Nội) để chạy chữa, chứ nói gì đến việc thiết triều. Và, nếu quả đúng như vậy thì không nghi ngờ gì nữa, Lê Long Đĩnh là ông vua tàn ác, đồi bại nhất trong lịch sử Việt Nam. Việc một số sử gia so sánh ông với Kiệt - Trụ, những hôn quân bên Trung Hoa, xét thấy cũng chẳng oan gì. Tuy nhiên, các nhận định trên đã bị một số các nhà nghiên cứu thời nay “bác” lại.

Trước hết, theo họ, là có nên hoàn toàn tin được vào các việc sử chép không? Bởi chính Ngô Sĩ Liên trong “Đại Việt sử ký toàn thư” đã có hai chỗ công khai “thú nhận” rằng những ghi chép của mình căn cứ vào dã sử; cụ thể: Một chỗ nói là “Sách dã sử chép rằng: Đại hành băng... Long Đĩnh làm loạn...”. Mà đã là “dã sử” thì rõ ràng chỉ nên coi là một tài liệu tham khảo, không thể coi là “chứng cứ buộc‘’.

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” thì: “Đinh Mùi (1007)... Mùa Xuân, (vua) sai em là Minh Xưởng và Chưởng Thư ký và Hoàng Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống, và xin kinh Đại Tạng” Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng chép: “Đinh Mùi, năm thứ 14 (1007)... Nhà vua sai Minh Xưởng và chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã đem con Tê trắng sang biếu nhà Tống, dâng biếu xin cửu kinh và kinh sách Đại Tạng. Nhà Tống ưng thuận cho cả”.

“Cửu kinh” là gì? Đó là bộ sách 9 quyển (gồm Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Chu Lễ) được coi là bộ sách vĩ đại, làm nên tảng của văn minh Trung Hoa. “Kinh Đại Tạng” là gì? Đó là bảo vật vô giá của Phật giáo, không chỉ tập đại thành các kinh sách mà còn hàm chứa rất nhiều lĩnh văn hóa như triết học, lịch sử, văn học, nghệ thuật, thiên văn, toán học, y dược...Từ đây nảy sinh nghi vấn: một ông vua có ý thức xây dựng, phát triển nền văn hóa dân tộc như vậy, liệu có thể có hành vi bạo ngược “róc mía trên đầu nhà sư... giả vờ trượt tay... để cười thích thú”?

Ngoài ý thức xây dựng văn hóa, người ta còn thấy Lê Long Đĩnh là ông vua biết chỉnh đốn triều chính và có tư duy kinh tế. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” thì 1 năm sau khi lên ngôi (1006) vua đã “Sửa đổi quan chế và triều phục của các quan văn võ và tăng đạo, theo đúng như nhà Tống”. Không chỉ có vậy, “Kỷ Dậu, Cảnh Thụy, năm thứ 2 (1009)... Vua lại xin được đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu. Nhưng vua Tống chỉ cho mua bán trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và Trấn Như Hồng thôi ”. Có người đã ví việc “xin đặt người coi việc tại chợ Ung Châu” của Lê Long Đĩnh của đầu thế kỷ XI chẳng khác gì việc đặt “Văn phòng đại diện thương mại” ở nước ngoài thời đầu thế kỷ XXI này. Từ đó nảy sinh nghi vấn rằng: Một hôn quân sáng say tối xỉn, lại còn mê mệt thê thiếp nữa thì liệu có còn đầu óc để nghĩ ra và thực hành những điều ích nước lợi dân như vậy không”?

Vẫn theo “Đại Việt sử ký toàn thư” thì chỉ riêng năm 1009, trước khi chết vua còn “chỉ đạo” làm một số việc có tính chất giao thông, thủy lợi; cụ thể là “bọn Ngô đô đốc” kiểu hành hiến dân biểu xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Vua suống chiếu cho lấy quân và dân ở châu ấy đào đắp từ cửa quan Chi Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lung”. “... Vua đi Ái Châu, đến sông Vũ Lung. Tục truyền người lội qua sông này phần nhiều bị hại, nhân thế vua sai người bơi lội qua đến ba lần,  không hề gì. Xuống chiếu đóng thuyền để ở các sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại”. Cũng trong năm đó “... Đến Hoàn Giang, sai phòng át sứ là Hồ Thủ Ích đem hơn 5 nghìn quân của Châu Hoàn Đường, sữa chữa đường từ sông Châu Giáp đến cửa biển Nam Giới để quân đi cho tiện”.

Thay cho lời bàn

Chỉ trong 4 năm trị vì (1005 - 1009, Lê Long Đĩnh đã làm được không ít việc có tính chất quốc kế dân sinh, thậm chí còn có việc “đi trước thời đại”. Việc giành ngôi cũng như trong cai trị có thể là ông tàn bạo. Nhưng cũng nên nhớ rằng, ở vào thời điểm hơn 1.000 năm trước nhà nước phong kiến tập quyền còn yếu ớt, nạn cát cứ tranh giành quyền lực còn khá phổ biến. Trong bối cảnh ấy, việc một vị vua phải sử dụng nhiều đến bạo lực trong cai trị cũng là điều quá khó hiểu.

Có thể phê phán, lên án Lê Long Đĩnh nhưng thiết nghĩ, có nên xếp ông vào hàng “hôn quân” ngang với Kiệt - Trụ bên Trung Quốc không? Vả lại, những điều ghi chép trong các cổ sử tuy quý giá, song vì nhiều lý do khác nhau, cũng chỉ nên đáng tin một phần nào.

(Còn tiếp )

Theo Câu chuyện Pháp luật