Thế giới

'Ngoại giao bẫy nợ' của Trung Quốc

Pakistan và Nepal từng từ chối các khoản vay hạ tầng của Trung Quốc để chuyển sang dùng các nguồn tài trợ khác

Vào năm ngoái, chính phủ Sri Lanka buộc phải cho các công ty thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc thuê cảng biển nằm ở vị trí chiến lược tại thị trấn Hambantota trong 99 năm sau khi không thể trả được khoản vay hơn 1 tỉ USD để phát triển nó.

Cảnh báo của Mỹ

Giờ đây, Djibouti, nơi đặt căn cứ chính của quân đội Mỹ ở châu Phi, có thể sắp phải làm điều tương tự với một cảng quan trọng khác và Washington dĩ nhiên không vui về điều này. Bắc Kinh "thúc đẩy sự phụ thuộc bằng các hợp đồng mập mờ, hoạt động vay mượn kiểu "săn mồi" và những giao dịch mờ ám đẩy các quốc gia vào cảnh nợ nần và mất chủ quyền" - Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson nhận định hôm 6-3 trước khi lên đường công du châu Phi. Người đứng đầu Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng ngay cả khi tiền đầu tư của Trung Quốc có khả năng giải quyết vấn đề hạ tầng yếu kém ở châu Phi, cách tiếp cận của nước này không tạo ra nhiều công ăn việc làm mà chỉ dẫn đến nợ nần ngập đầu ở hầu hết quốc gia.

Ngoại giao bẫy nợ của Trung Quốc
Mỹ đang lo ngại kịch bản Trung Quốc kiểm soát cảng container Doraleh ở Djibouti Ảnh: REUTERS

Theo trang Quartz, một số chuyên gia thậm chí gọi đây là "ngoại giao bẫy nợ": Cho các nền kinh tế nhỏ vay lãi suất ưu đãi để phát triển hạ tầng nhưng nguy cơ vỡ nợ là không nhỏ nếu không có đủ tiền mặt để trả lãi. Ở Sri Lanka, người dân vẫn còn bức xúc về vụ cảng Hambantota nói trên và những dự án như sân bay quốc tế Mattala, được mệnh danh là sân bay "vắng vẻ nhất thế giới". Theo tính toán, Sri Lanka đang mắc nợ tổng cộng 64,9 tỉ USD, trong đó nợ Trung Quốc khoảng 8 tỉ USD.

Câu chuyện nói trên gây không ít lo ngại giữa lúc Trung Quốc không ngừng quảng bá sáng kiến "Vành đai và Con đường" (BOI) mang lại lợi ích cho tất cả bên tham gia. Với Bắc Kinh, đó là tham vọng trở thành lãnh đạo thương mại toàn cầu trong lúc các nền kinh tế đang phát triển có vốn cải thiện hạ tầng giao thông. 

Tuy nhiên, Trung Quốc đang đối mặt cáo buộc mạnh tay với các nước mắc nợ khi những dự án phát triển không hiệu quả như kỳ vọng. Ông Malcolm Davis, nhà phân tích tại Viện Chính sách chiến lược Úc, mô tả thỏa thuận Hambantota là một phần của bức tranh rộng lớn hơn. Theo ông, một nước khi phụ thuộc nhiều vào tiền đầu tư của Trung Quốc khó có thể đi ngược lại những lợi ích chiến lược của họ.

Gánh nặng lên kinh tế

Trung tâm Phát triển Toàn cầu (CGD), một tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận, đã phân tích những khoản nợ mà các nước sẽ mắc phải khi tham gia sáng kiến nói trên. Trong số này, có 8 quốc gia dễ bị tổn thương trước những khoản nợ cao là Djibouti, Kyrgyzstan, Lào, Maldives, Mông Cổ, Montenegro, Pakistan và Tajikistan. Các nhà nghiên cứu cho biết họ không ước tính khoản nợ này ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng và phần lớn dữ liệu được thu thập từ thông tin trên truyền thông. Dù vậy, CGD tin rằng sức ép của nợ nần có thể cản trở nỗ lực phát triển kinh tế.

Trong quá khứ, Trung Quốc có những cách xử lý nợ không nhất quán và ít khi theo thông lệ của các nhà cho vay quốc tế. Đôi khi Bắc Kinh chịu xóa nợ nhưng cũng có lúc đòi hỏi "con nợ" nhượng bộ về tranh chấp lãnh thổ hoặc kiểm soát cơ sở hạ tầng.

Vì thế, CGD cho rằng Trung Quốc cần phải áp dụng tiêu chuẩn nghiêm ngặt, cũng như minh bạch hơn về sự hỗ trợ dành cho các nền kinh tế đang phát triển. Một số quốc gia không chờ Bắc Kinh hành động: Pakistan và Nepal từ chối các khoản vay hạ tầng của Trung Quốc năm ngoái để chuyển sang dùng các nguồn tài trợ khác.

Với Mỹ, nỗi lo về hoạt động đầu tư của Trung Quốc ở nước ngoài càng gia tăng sau khi có thông tin nói Bắc Kinh sắp giành được quyền kiểm soát một cảng thương mại lớn ở khu vực Sừng châu Phi, củng cố đáng kể ảnh hưởng ở khu vực có tầm chiến lược quan trọng này. Cuối tháng 2 vừa qua, chính phủ Djibouti đã chấm dứt hợp đồng điều hành cảng container Doraleh (DCT) với nhà khai thác cảng DP World (Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất), lấy lý do hợp đồng này đi ngược lại các lợi ích cơ bản của đất nước.

Công ty nhà nước Trung Quốc China Merchants Port Holdings đang sở hữu 23,5% cổ phần trong Port de Djibouti SA, công ty mẹ của DCT. Ngoài ra, cảng này nằm ngay cạnh căn cứ quân sự duy nhất của Trung Quốc ở nước ngoài, cũng như là điểm tiếp cận chính của các căn cứ Mỹ, Pháp, Ý, Nhật tại Djibouti. Trong số này, căn cứ Lemonnier của Mỹ hiện có khoảng 4.000 quân nhân và là nơi phát động nhiều chiến dịch quân sự, chống khủng bố khắp châu Phi, Trung Đông và Ấn Độ Dương.

Các nghị sĩ Mỹ dẫn các báo cáo cho biết chính phủ Djibouti đang chuẩn bị trao DCT cho Trung Quốc như một "món quà". Ngay cả khi quan chức Djibouti khẳng định không có chuyện như thế, nỗi lo của Washington không phải không có cơ sở bởi quốc gia châu Phi này đang phụ thuộc nhiều vào tiền đầu tư của Trung Quốc và 2 nước có quan hệ ngoại giao gần gũi. Chính phủ Djibouti do Tổng thống Ismail Omar Guelleh đứng đầu cho đến nay vẫn hoan nghênh vai trò của Trung Quốc trong nền kinh tế đất nước, với lý do nước này nghèo nàn về nguồn tài nguyên thiên nhiên nên cần dựa vào việc tối đa hóa lợi thế về vị trí và tăng cường đầu tư vào hạ tầng cảng biển.

Tương lai của DCT đã trở thành chủ đề thảo luận tại phiên điều trần gần đây của Ủy ban Quân vụ Hạ viện Mỹ. Tướng Thomas Waldhauser, Tư lệnh Bộ Chỉ huy châu Phi của Mỹ, lo ngại việc sử dụng DCT sẽ bị hạn chế, đe dọa khiến quân đội Mỹ không được tiếp cận một tuyến đường tiếp tế và điểm dừng chân tiếp liệu quan trọng.

Theo Phương Võ (Nld.com.vn)