Pháp luật

Nguyên nhân gốc rễ của những án oan chấn động

Góp ý dự thảo Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi sáng 17/6, đại biểu Quốc hội Lê Thị Nga (Phó chủ nhiệm Ủy ban tư pháp QH) đã vạch rõ những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những vụ án oan.

Không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình

Đánh giá cao VKSND tối cao, Bộ Công an, TAND tối cao đã đưa ra nhiều quy định mới tiến bộ, bảo vệ tốt hơn quyền của bị can, bà Nga cho biết hoàn toàn đồng tình về quy định quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.

“Xuất phát từ quyền tự nhiên của con người là quyền tự bảo vệ. Một người là thủ phạm nhưng có thể có hàng chục người bị tình nghi và bị tình nghi chưa phải là có tội. Luật cần đảm bảo quyền này cho những người bị tình nghi khi bản thân họ tự thấy chưa đủ điều kiện về nhiều mặt như kiến thức pháp luật, về thể chất, tinh thần; họ cần thời gian để bình tĩnh suy nghĩ cân nhắc, cần có người trợ giúp về mặt pháp lý để tránh tình trạng tự đưa mình vào tình thế bất lợi, tự buộc tội chính mình”, bà Nga nói.

ĐBQH Lê Thị Nga.


Bà Nga dẫn chứng thực tế cho thấy, lần đầu bị công an triệu tập, nhiều người mất bình tĩnh, thậm chí hoảng loạn, nhất là người ít hiểu biết pháp luật, vị thành niên, người dân tộc thiểu số, có những trường hợp đã tự sát tại nơi lấy lời khai hoặc nơi giam giữ. Trường hợp anh Hoàng Văn Ngài, người dân tộc H’Mông, tự sát năm 2013 tại Công an Gia Nghĩa - Đắk Nông sau 2 ngày bị triệu tập lên làm việc là một ví dụ.
 
Theo bà Nga, quyền tự bảo vệ đó thực chất là một phần quan trọng của quyền bào chữa. Đây là một phương thức tự bảo vệ đơn sơ nhất, nhưng khả thi nhất cho người dân dù ở trình độ nhận thức pháp luật thấp nhất trước sự đối diện với cán bộ điều tra được đào tạo bài bản về thủ pháp điều tra, dầy dạn nghiệp vụ thẩm vấn. Thực hiện quyền này còn giúp giảm tối đa oan sai. Nếu bỏ lọt tội phạm chỉ sai một lần thì làm oan đã nhân đôi số lần sai vì đã bao hàm cả bỏ lọt.

Tự bào chữa bị coi là quanh co chối tội

Vẫn theo bà Nga, do kỹ thuật lập pháp không quy định trực tiếp quyền không trình bày lời khai mà chỉ có thể hiểu gián tiếp nên thực tế những quy định trên không được chấp hành nghiêm.

Cùng với những hạn chế của tố tụng thẩm vấn nên đã trở thành thói quen trong cả nhận thức và hành động của không ít người tiến hành tố tụng, việc phụ thuộc vào lời khai nhận tội của nghi can và "suy đoán có tội" đã trở thành khá phổ biến. Điều tra, truy tố, xét xử sẽ được kết thúc một cách nhanh chóng nếu có được lời nhận tội.

“Vì vậy, thực tế nhiều trường hợp đã biến từ "quyền trình bày lời khai" thành nghĩa vụ phải khai báo và đã từng xảy ra mớm cung, bức cung, nhục hình; biến việc không thực hiện quyền trình bày lời khai thành "thiếu thành khẩn", "không hợp tác với cơ quan tố tụng"; nghi can tự bào chữa bị coi là "quanh co, chối tội hòng trốn tránh trách nhiệm" và tất cả những tình tiết này đều bị tòa án dùng làm căn cứ để quyết định mức án nặng hơn”, bà Nga cho hay.

Bà Lê Thị Nga cho rằng, quy định như dự thảo rõ ràng là minh bạch hơn so với hiện hành, vừa giúp cho bị can, bị cáo thấy rõ quyền của mình, người tiến hành tố tụng thấy rõ nghĩa vụ và giúp Nhà nước chống oan, sai.

“Đây cũng là tiền đề rất quan trọng để thực hiện nguyên tắc “trách nhiệm chứng minh”, “suy đoán vô tội”, “đảm bảo quyền bào chữa”, bà Nga nói.

Ủng hộ bắt buộc ghi âm, ghi hình

Bà Nga cũng ủng hộ và đề nghị quy định rõ hơn tại Điều 174 là: “Khi hỏi cung phải ghi âm và ghi hình”.

“Quy định này nhằm đảm bảo minh bạch quá trình hỏi cung, ghi nhận khách quan hoạt động nghiệp vụ của điều tra viên, kiểm sát viên, luật sư; là bằng chứng khách quan để bảo vệ điều tra viên nếu bị nghi can vu cáo bức cung, nhục hình và bảo vệ nghi can nếu việc bức cung, nhục hình là có thật, bảo vệ luật sư nếu bị nghi ngờ là xui cho bị can chối tội”, bà Nga nêu ý kiến.

Bà Nga cho hay cho đến nay, ý kiến chính thức của Bộ công an, VKSND tối cao, TAND tối cao là thống nhất, UBTV Quốc hội nhất trí, Uỷ ban thẩm tra cơ bản đồng tình việc ghi âm, ghi hình.

“Tôi cho rằng sự đồng thuận đó đã đủ cho chúng ta luật hóa quy định này như đề xuất của Ban soạn thảo”, bà Nga nói.

Về quyền đọc hồ sơ khi không có người bào chữa, bà Lê Thị Nga cho rằng: Tôi thống nhất với dự thảo cần ghi nhận quyền của bị can, bị cáo được đọc bản sao hồ sơ hoặc hồ sơ đã được số hóa. Tuy nhiên, tôi đề nghị không giới hạn như dự thảo "chỉ được đọc những tài liệu liên quan đến việc buộc tội" vì sẽ làm vô hiệu hóa quyền tự bào chữa.

“Bởi nếu để kết tội được một người, cơ quan tố tụng đương nhiên phải đưa ra được bằng chứng buộc tội. Ngược lại, để bào chữa, bị can, bị cáo tất yếu phải dựa vào chứng cứ gỡ tội. Đặc biệt là những chứng cứ ngoại phạm.

Nếu không được tiếp cận với chứng cứ gỡ tội thì họ lấy gì để tự bào chữa và lấy gì để tranh tụng? Sẽ là không công bằng khi người có điều kiện mời luật sư thì luật sư được đọc toàn bộ hồ sơ, còn người không có điều kiện, phải tự bào chữa thì lại không được tiếp cận toàn bộ”, bà Nga phân tích.
 

Theo Lê Phi (Pháp Luật TPHCM)